Phiên bản di động

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng

Ngày 28/9, tại Hà Nội, được sự đồng ý của lãnh đạo Bộ Xây dựng, Báo Xây dựng phối hợp với Vụ Vật liệu xây dựng tổ chức Hội thảo “Xu hướng công nghệ vật liệu trong công trình xây dựng”.
Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng

Hội thảo có sự tham dự của PGS.TS Phạm Minh Hà – Cục trưởng Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng; Ths.Phạm Văn Bắc - Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng; PGS.TS Vũ Ngọc Anh – Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và môi trường; PGS.TS Lê Trung Thành - Viện trưởng Viện Vật liệu Xây dựng; bà Đỗ Nguyệt Ánh - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế; cùng đại diện các Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ Xây dựng; đại diện các Hiệp hội: Hội Vật liệu xây dựng; Hiệp hội Nhà thầu Xây dựng Việt Nam, Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Hiệp hội bất động sản Việt Nam cùng các chuyên gia vật liệu xây dựng, chuyên gia về kiến trúc; đại diện các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; các công ty thiết kế, kiến trúc xây dựng….

Một số năm gần đây, sự biến đổi của khí hậu đã làm cho môi trường sống của con người ngày càng bị đe dọa, tạo sức ép buộc các quốc gia phải chú trọng phát triển kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh. Phát triển các loại vật liệu xây dựng thông minh, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường, đây cũng là xu thế tất yếu, là mục tiêu hướng tới của ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Để đạt được mục tiêu này, các sản phẩm vật liệu phải đáp ứng được yêu cầu: Tiêu tốn ít năng lượng hơn cho việc tạo ra nó và giúp tiết kiệm được năng lượng tiêu thụ cho công trình xây dựng khi đưa vào sử dụng.

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
Toàn cảnh Hội thảo “Xu hướng công nghệ vật liệu trong công trình xây dựng”

Ngoài ra Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, định hướng đến năm 2050 được xây dựng dựa trên 6 quan điểm nhất quán. Trong đó, phát triển ngành Vật liệu xây dựng hiệu quả, bền vững, đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước, từng bước tăng cường xuất khẩu, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội; Tiếp cận và ứng dụng nhanh nhất các thành tựu khoa học, công nghệ, quản lý nhất là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Sử dụng hiệu quả tài nguyên, triệt để tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu; Hạn chế tối đa ảnh hưởng tới môi trường trong quá trình khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng…

Với chủ đề “Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng”, Hội thảo sẽ tập trung đi sâu phân tích những thực trạng của thị trường vật liệu xây dựng hiện nay và giới thiệu những xu hướng công nghệ vật liệu xây dựng mới, ứng dụng trong kiến trúc và công trình xây dựng. Đây cũng là dịp để các nhà quản lý lắng nghe ý kiến từ nhà sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng xoay quanh câu chuyện sản xuất kinh doanh, trong đó có những bất cập, vướng mắc trong sản xuất, tiêu thụ vật liệu xây dựng trong bối cảnh hiện nay.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Nguyễn Anh Dũng – Tổng biên tập Báo Xây dựng cho biết: Sản xuất và sử dụng vật liệu xây dựng có vai trò quan trọng, đóng góp vào sự phát triển chung của ngành xây dựng và của ngành công nghiệp nói chung, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm vừa qua, ngành sản xuất vật liệu xây dựng đã phát triển mạnh về số lượng, chất lượng và chủng loại, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị và nhà ở. Giá trị vật liệu xây dựng thường thường chiếm 60% - 70% trong cơ cấu giá thành công trình xây dựng vì vậy chất lượng, giá thành vật liệu xây dựng quyết định rất lớn đến chất lượng và giá thành xây dựng công trình.

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
Ông Nguyễn Anh Dũng – Tổng biên tập Báo Xây dựng phát biểu khai mạc Hội thảo.

Ông Nguyễn Anh Dũng cũng cho biết: Hiện nay các giải pháp, các xu hướng công nghệ mới từ ngành Vật liệu xây dựng rất nhiều và đa dạng, từ đổi mới các vật liệu truyền thống và cải thiện các tính năng sẵn có, đến việc tạo ra các tổ hợp vật liệu mới có thêm nhiều tính năng, cho đến các vật liệu mới và tính năng hoàn toàn mới. Có rất nhiều loại vật liệu xây dựng và hoàn thiện tiên tiến đã được đưa ra thị trường hoặc đang tiếp cận thị trường. Mặc dù có nhiều tiềm năng lớn, nhưng các loại vật liệu mới vẫn khó thâm nhập thị trường, chưa nói đến việc đạt được sự chấp nhận rộng rãi. Hội thảo ngày hôm nay có sự tham gia của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, các chủ đầu tư, nhà sản xuất và các chuyên gia trong lĩnh vực vật liệu xây dựng.

Đây là dịp để phân tích thực trạng thị trường vật liệu xây dựng, phân tích bức tranh toàn diện và giới thiệu những xu hướng công nghệ vật liệu xây dựng mới, ứng dụng trong kiến trúc và công trình xây dựng. Đồng thời, các nhà quản lý cũng được lắng nghe ý kiến từ nhà sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh vật liêu xây dựng về những bất cập, vướng mắc trong sản xuất, tiêu thụ vật liệu xây dựng trong bối cảnh hiện nay. Nhận diện những thách thức cũng như thời cơ để kịp thời đưa ra chính sách khuyến khích phát triển phục vụ ngành Vật liệu Xây dựng, góp phần tạo giá trị và thu cho quốc gia hoặc cảnh báo những nguy cơ xấu nếu có.

Phát biểu tại Hội thảo, Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng Phạm Văn Bắc cho biết: Có thể thấy, sản xuất vật liệu xây dựng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trong 15 năm qua, ngành vật liệu xây dựng đã phát triển vô cùng mạnh mẽ, Việt Nam từ một nước nhập khẩu hầu hết vật liệu, cho đến nay đã từng bước phát triển mạnh mẽ. Đến năm 2010, cơ bản Việt Nam đã sản xuất được những sản phẩm vật liệu xây dựng, đáp ứng được nhu cầu xây dựng trong nước và xuất khẩu.

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
Ths.Phạm Văn Bắc - Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) phát biểu tại Hội thảo.

Ths.Phạm Văn Bắc - Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cũng cho biết: Sản xuất vật liệu xây dựng ngày nay đang có xu hướng phát triển các vật liệu xanh, thân thiện với môi trường. Ngày 18/8/2020, tại Quyết định 1266/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã chính thức phê duyệt Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng thời kỳ 2021-2030, định hướng đến 2050. Chiến lược được xây dựng trên 6 quan điểm, trong đó quan điểm phát triển vật liệu xây dựng hiệu quả bền vững, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, tiếp cận, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ thế giới, quản lý vật liệu và sử dụng hiệu quả tài nguyên năng lượng, nhiên liệu, hạn chế ảnh hưởng môi trường là điều quan trọng.

Mục tiêu của chiến lược là sản xuất vật liệu xây dựng đạt trình độ tiên tiến hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế, tiết kiệm năng lượng, vật liệu có sức cạnh tranh cao, loại bỏ các công nghệ cũ, lạc hậu tiêu tốn nhiều tài nguyên…Từ mục tiêu, quan điểm trên, các doanh nghiệp trong và ngoài nước đã và đang triển khai sản xuất vật liệu xây dựng hết sức tích cực, song song đó là biện pháp quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước như xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, quản lý vật liệu xây dựng được tăng cường.

Hội thảo lần này là tiền đề để doanh nghiệp, chuyên gia, cơ quan quản lý Nhà nước về vật liệu xây dựng có cơ hội thảo luận, giới thiệu những công nghệ, sản phẩm vật liệu xây dựng mới, tạo sức hút cho thị trường.

Ông Nguyễn Quang Hiệp - Phó Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng): Phát triển vật liệu xây dựng đã từng bước được chú trọng hơn theo hướng phát triển bền vững, bảo vệ môi trường

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
Ông Nguyễn Quang Hiệp - Phó Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng)

Hiện nay, phát triển vật liệu xây dựng của nước ta đã bắt đầu hướng đến áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường; đảm bảo an ninh kinh tế; chủ động hội nhập quốc tế; hình thành các điều kiện cơ bản cho nền kinh tế xanh, ít chất thải rắn, phát thải các-bon thấp.

Trên tất cả các lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng đều có sự chuyển biến tích cực. Các dây chuyền sản xuất theo công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, tiêu tốn nguyên liệu, nhiên liệu, hiệu quả thấp, gây ô nhiễm môi trường từng bước được loại bỏ. Các nhà máy mới được đầu tư áp dụng công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, nhiều dây chuyền được trang bị mức độ cơ giới hóa, tự động hóa cao, trình độ công nghệ đạt ngang bằng với các nước tiên tiến trên thế giới. Phát triển vật liệu xây dựng đã từng bước được chú trọng hơn theo hướng phát triển bền vững, bảo vệ môi trường. Công suất thiết kế và sản lượng một số sản phẩm vật liệu xây dựng đã tăng gấp 2 đến 3 lần so với thời kỳ 10 - 15 năm trước. Mẫu mã sản phẩm đa dạng, phong phú, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn của các nước phát triển đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của thị trường trong nước, từng bước thay thế hàng nhập khẩu và đã xuất khẩu ra thị trường thế giới.

Kinh tế, xã hội Việt Nam đang trên đà phát triển, quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng, nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng lớn, tạo ra nhu cầu rất lớn về sản xuất và tiêu thụ vật liệu xây dựng. Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ ở các lĩnh vực khác như cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ hóa học đã giúp cho lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng tăng năng suất, giảm chi phí và cho ra đời nhiều vật liệu mới, có tính năng ngày càng cao.

Bên cạnh đó, hành lang pháp lý, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng đầy đủ, hoàn thiện tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư. Hệ thống quản lý về chất lượng sản phẩm vật liệu xây dựng (quy chuẩn, tiêu chuẩn) cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, hài hòa lợi ích giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, ngành sản xuất vật liệu xây dựng cũng gặp phải nhiều thách thức đó là: Tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt, cần phải có giải pháp, công nghệ để sử dụng nguyên liệu có chất lượng thấp, tận dụng phế thải từ các ngành khác; Nhiên liệu hoá thạch ngày càng khan hiếm, chi phí cho nhiên liệu, năng lượng ngày một tăng cao; Các yêu cầu về bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính tạo ra các thách thức không nhỏ khiến ngành sản xuất vật liệu xây dựng cần phải có thay đổi mạnh mẽ về công nghệ sản xuất.

Ngoài ra, Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đã định hướng phát triển ngành sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng sản xuất vật liệu xây dựng đạt trình độ tiên tiến, hiện đại; triệt để tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, tận dụng tối đa chất thải từ các ngành khác; sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; giảm các chỉ số phát thải nhằm bảo vệ môi trường. Để đáp ứng các tiêu chí được định hướng trong Chiến lược, việc lựa chọn công nghệ sản xuất đối với một số chủng loại sản phẩm VLXD sẽ theo hướng sau:

Sản xuất xi măng: Các dây chuyền công suất lớn trên 5.000 tấn/ngày; có hệ thống calciner, sử dụng thiết bị nghiền đứng con lăn thay cho nghiền bi, có hệ thống tận dụng nhiệt thừa khí thải để phát điện; các chỉ tiêu tiêu thụ năng lượng và phát thải thấp.

Sản xuất vật liệu gốm ốp lát: Các dây chuyền công suất lớn, linh hoạt trong thay đổi mẫu mã sản phẩm. Các chỉ tiêu tiêu hao nhiên liệu, năng lượng thấp.

Sản xuất đá ốp lát tự nhiên: Công nghệ khoan, nêm tách, cắt dây kim cương và cưa đĩa, hạn chế tối đa khoan nổ mìn; Đối với công nghệ sản xuất đá ốp lát nhân tạo: xu hướng lựa chọn công nghệ là sản xuất sản phẩm khổ lớn, mức độ tự động hóa cao, sử dụng hệ thống ép, hút chân không để sản phẩm đạt mật độ cao; ứng dụng tối đa công nghệ thông tin tạo mẫu sản phẩm có tính thẩm mỹ cao.

Sản xuất sứ vệ sinh: Dây chuyền có khả năng thay đổi mẫu mã linh hoạt, sử dụng khuôn đúc rót thế hệ mới (bằng kim loại) quay vòng nhiều lần; sản xuất với mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu và mức phát thải ra môi trường thấp.

Sản xuất kính xây dựng: Công nghệ kính nổi sản xuất các sản phẩm khổ lớn; kính cường lực, kính an toàn, kính tiết kiệm năng lượng (kính Low-E, Solar control có hệ số truyền nhiệt U-Value, độ truyền tia UV, hệ số hấp thụ năng lượng mặt trời SHGC thấp). Hướng đến quá trình sản xuất với các chỉ tiêu tiêu thụ năng lượng và phát thải thấp.

Sản xuất gạch đất sét nung: Dây chuyền sản xuất có năng suất cao, có khả năng tận dụng nguyên liệu, nhiên liệu chất lượng thấp như đất đồi, phế thải từ các ngành khác; sử dụng lò nung tuynel di động hoặc tuynel trần phẳng thông thường.

Sản xuất vật liệu xây không nung: Dây chuyền sản xuất tấm lớn (tấm tường bê tông rỗng, tấm tường bê tông khí chưng áp và các loại tấm nhẹ khác), sản xuất với năng suất cao, chất lượng ổn định phù hợp với công nghệ thi công nhanh tại công trình; công nghệ cho phép tận dụng tối đa tro, xỉ nhiệt điện và các chất thải rắn thông thường khác trong thành phần sản phẩm.

Sản xuất cát nhân tạo: Các dây chuyền sử dụng thiết bị nghiền sàng công suất lớn, hiệu quả, có khả năng thay đổi nguyên liệu với mức độ biến đổi về độ cứng rộng, có hệ thống tuần hoàn nước, chi phí sử dụng năng lượng thấp, phát thải bụi thấp.

Thi công bê tông và sản xuất cấu kiện bê tông: Đối với bê tông thi công tại chỗ, việc lựa chọn công nghệ bê tông phù hợp với công trình cụ thể: Đối với các kết cấu hình ống theo phương đứng (silo, ống khói, tháp cầu, vách thang máy), sử công nghệ cốp pha trượt. Đối với xây dựng đập trọng lực, sử dụng công nghệ bê tông đầm lăn. Với các kết cấu sàn vượt nhịp lớn sử dụng công nghệ sàn bê tông rỗng 3D. Đối với công tác sửa chữa, gia cường kết cấu, sử dụng các công nghệ bê tông đặc biệt như bê tông tự chảy (SCC), bê tông cốt sợi phân tán, bê tông tính năng cao (HPC) và siêu cao (UHPC). Công tác sản xuất bê tông có xu hướng chuyển dịch sản xuất từ công trường về nhà máy – nơi có điều kiện lao động tốt hơn để nâng cao năng suất, chất lượng cho cấu kiện đồng thời rút ngắn thời gian thi công tại hiện trường.

Ông Lê Văn Tới - Phó Chủ tịch Hiệp hội Vật liệu xây dựng Việt Nam: Hướng tới sản xuất sạch và sản phẩm thân thiện

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
Ông Lê Văn Tới - Phó Chủ tịch Hiệp hội Vật liệu xây dựng Việt Nam

Giai đoạn từ 2010 đến nay, về lĩnh vực vật liệu xây dựng, Nhà nước có định hướng phát triển theo hướng sử dụng công nghệ tiên tiến, hướng đến sản xuất sạch và vật liệu xây dựng thân thiện. Tuy đã có nhiều thành tựu trong lĩnh vực sản xuất này nhưng vẫn còn nhiều bất cập.

Các văn bản pháp luật hiện hành quy định vật liệu xây dựng thân thiện là đối tượng được chú ý cả tới quá trình sản xuất ra nó, có các thuộc tính mà vật liệu xây dựng truyền thống không có. Đó là, mang lại hiệu quả cao hơn cho ngôi nhà, bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng sống cho người sử dụng. Trong quá trình sản xuất giảm thiểu sử dụng năng lượng, sử dụng tài nguyên khoáng sản. Trong quá trình sản xuất giảm thiểu chất thải, giảm thiểu ô nhiễm và những tác động hủy hoại môi trường.Trong quá trình sản xuất tham gia tích cực vào việc xử lý chất thải của ngành sản xuất khác. Tuy nhiên để thực hiện được những quy định trên là một quá trình khó khăn và không kém phần cam go.

Một số thống kê cho thấy, kết quả trong đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng thân thiện như: Dây chuyền sản xuất kính phủ Low-e của Viglacera đã hoàn thành và đưa vào sử dụng từ tháng 7 năm 2016 với công suất 2.300.000m2/năm. Chưa có dự án sản xuất vật liệu xây dựng sử dụng rác thải sinh hoạt làm nhiên liệu.

Về chương trình phát triển vật liệu xây không nung (VLXKN) đến năm 2020, mục tiêu đề ra là “Phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung thay thế gạch đất sét nung đạt tỷ lệ: 20-25% vào năm 2015, 30 - 40% vào năm 2020”. Nhưng, thực tế tới năm 2015 cả nước đã đầu tư trên 2 ngàn dây chuyền sản xuất gạch block bê tông (gạch xi măng cốt liệu), trong đó gần 150 dây chuyền khoảng trên 10 triệu viên/năm và 13 dây chuyền gạch bê tông khí chưng áp. Chỉ tích 3 loại VLXKN cơ bản là block bê tông, AAC và bê tông bọt, cả nước đa có tổng công suất là 6,5 tỷ viên QTC; công suất đó có thể nói đã vượt chỉ tiêu của năm 2020…

Từ đầu năm 2020 cả nước bị ảnh hưởng lớn của đại dịch Covid-19, các ngành sản xuất bị đình trệ, trong đó có ngành xây dựng và lĩnh vực vật liệu xây dựng. Các cơ sở sản xuất không được khai thác hết công suất do việc tiêu thụ sản phẩm rất khó khăn, vì vậy việc đầu tư mới các cơ sở sản xuất VLXKN cũng chững lại.

Hiện nay, ngày càng có nhiều khối nhà cao tầng sử dụng kính tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên vẫn chưa phải tất cả các chủ đầu tư, hay tại các dự án nhà cao tầng đều sử dụng, trong khi Quy chuẩn Việt Nam số 09/2013/BXD về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các công trình xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả, đã quy định việc hạn chế bức xạ mặt trời.

Về tiêu thụ VLXKN, theo số liệu của Vụ Vật liệu xây dựng, nếu tính bình quân cả nước và các loại VLXKN nói chung thì con số sử dụng năm 2015 là 4,98 tỷ viên QTC trên tổng số 23 tỷ viên VLX được sử dụng, đạt 21%. Như vậy chỉ tiêu thứ nhất của Chương trình 567 là tỷ lệ sử dụng bình quân trong cả nước đã đạt (Chương trình đề ra là trên 20%);

Tỷ lệ gạch nhẹ đang ở tỷ lệ thấp, chỉ mới khoảng gần 10% trên tổng số VLXKN, mà mục tiêu đề ra là trên 20%. Đây là chỉ tiêu quan trọng thứ hai trong Chương trình phát triển VLXKN đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ. Nhưng là tiêu chí quan trọng, nhằm khuyến khích tạo ra công trình xanh.

Ngoài tính năng vượt trội khác như nhẹ, dễ xây, tạo tính công nghiệp hóa cao trong sản xuất và sử dụng…VLXKN loại nhẹ có độ cách âm lớn, độ truyền nhiệt rất thấp. Hai tiêu chí này khiến cho người sống trong tòa nhà được khỏe khoắn và thoải mái hơn. Đặc biệt độ truyền nhiệt thấp của gạch bê tông khí chưng áp giúp tòa nhà có thể tiết kiệm tới 40% năng lượng để sưởi nóng vào mùa đông và làm mát vào mùa hè. Những người đã sống trong căn hộ được xây bởi gạch bê tông khí chưng áp thì cảm nhận rất rõ điều này.

Giải pháp nào để việc sản xuất và sử dụng VLXD thân thiện được như định hướng? Đó là, Nhà nước cần phải có những biện pháp hành chính cần thiết để thúc đẩy sử dụng vật liệu xây dựng thân thiện. Những biện pháp này cần được quy định trong văn bản pháp luật, ít nhất là trong Nghị định. Bên cạnh đó, phải thay đổi trong công tác chỉ đạo thực hiện: Cần nhất quán, quyết liệt hơn; gắn trách nhiệm cho các địa phương, có kiểm tra, có khen thưởng các địa phương làm tốt, có phê bình đối với những địa phương thực hiện chưa tốt. Công tác tuyên truyền cần được coi trọng và mạnh mẽ hơn. Các giải pháp mang tính kỹ thuật, chuyên sâu về khung kỹ thuật. Các cơ quan chức năng cần ban hành đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật liên quan đến sản phẩm, đến việc sử dụng vật liệu xây dựng thân thiên. Đặc biệt đối với công trình “xanh” cần đưa ra các tiêu chí và thông số đặc thù cụ thể.

Về đào tạo: Phải có chương trình giảng dạy tại các trường chuyên ngành xây dựng về thiết kế, thi công sử dụng vật liệu xây dựng thân thiện; Cần có sự cập nhật, cải tiến trong biên soạn giáo trình. Khuyến khích, hỗ trợ các trường, các trung tâm dạy nghề mở các khóa đào tạo ngắn hạn kỹ thuật cho công nhân sử dụng VLXKN.

Về công nghệ thi công, cần bổ sung chính sách để khuyến khích sử dụng công nghệ thi công tiên tiến, nhằm tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động trong sử dụng vật liệu xây dựng thân thiện.

PGS.TS Lương Đức Long - Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam: Chuyển đổi số trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp

Sản xuất vật liệu xây dựng là một ngành công nghiệp, đối với đa số sản phẩm vật liệu xây dựng, quá trình sản xuất bao gồm các công đoạn từ: Khai thác nguyên liệu, gia công và đồng nhất nguyên liệu, chế tạo sản phẩm…Ngoài sản xuất, doanh nghiệp cần mua vật tư, phụ tùng phục vụ sản xuất, bảo trì, sửa chữa thiết bị, thực hiện việc vận chuyển (logistic), bán hàng….Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cần tập trung chuyển đổi số và áp dụng thành tựu công nghệ trong các doanh nghiệp vật liệu xây dựng để tối ưu hoá sản xuất và các công đoạn liên quan nhằm phục vụ tốt nhất đến khách hàng.

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
PGS.TS Lương Đức Long - Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam

Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng đang giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp khoảng 6,5 – 7% vào GDP của Việt Nam. Do quá trình phát triển kết cấu hạ tầng của nước ta vẫn tiếp tục trong vài chục năm nữa nên xây dựng và vật liệu xây dựng vẫn có vai trò rất quan trọng trong giai đoạn tới.

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm vật liệu xây dựng, các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cần áp dụng các thành cựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Một trong những việc không thể thiếu khi áp dụng I4 là chuyển đổi số. Nếu không chuyển đổi số, không thể thực hiện được bất kỳ nội dung nào trong I4.

Chuyển đổi số là việc chuyển toàn bộ các thông tin, dữ liệu liên quan đến doanh nghiệp, từ khai thác mỏ, cung ứng vật tư, phụ tùng, sản xuất, logistic, bán hàng, quản lý, điều hành, công tác lập kế hoạch, tổ chức, nhân sự…thành các tín hiệu số để máy tính có thể đọc được, lưu trữ, quản lý, xử lý, chuyển từ nơi này đến nơi khác thông qua kết nối internet (IoT). Chuyển đổi số là nền tảng, tạo ra “nguyên liệu” cho tất cả các công việc tiếp theo của I4. Nếu không có chuyển đổi số, sẽ không có cách mạng công nghiệp 4.0.

Nội dung chuyển đổi số của doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng bao gồm việc chuyển đổi số của 5 khâu. Trong mỗi khâu này lại bao gồm rất nhiều nội dung khác nhau. Các dữ liệu đã được số hóa sẽ được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Có thể tóm tắt một số nội dung cơ bản như sau:

Mỏ nguyên liệu, cần số hóa các dữ liệu: Trữ lượng mỏ, chất lượng mỏ theo lưới khoan địa chất, tình hình khai thác (biến đổi trữ lượng, chất lượng theo thời gian), điều kiện khai thác…Các dữ liệu này được sử dụng để mô hình hóa mỏ nguyên liệu phục vụ công tác khai thác, sử dụng tối ưu nguyên liệu, dự báo nguyên liệu và lập kế hoạch nguyên liệu cho doanh nghiệp.

Dây chuyền công nghệ sản xuất, cần số hóa các dữ liệu: Danh mục thiết bị kèm theo quy cách, sơ đồ công nghệ, các thông số vận hành, năng suất, chất lượng sản phẩm và bán sản phẩm của từng công đoạn sản xuất, tình trạng chất lượng thiết bị, dây chuyền sản xuất, thời gian dừng kỹ thuật, sự cố…Các dữ liệu này được sử dụng để tối ưu hóa các thông số vận hành, dự báo bảo trì, tiết kiệm năng lượng, chi phí nhân công, lập kế hoạch cung cấp phụ tùng thay thế.

Ông Vasudevan Murugesu - Giám đốc Nghiên cứu và phát triển Sika Việt Nam: Cung cấp giải pháp đa dạng đáp ứng nhu cầu của thị trường Việt Nam

Với tầm nhìn và mục tiêu phát triển bền vững, thân thiện sức khỏe người dùng, Sika Việt Nam đặt ra chỉ tiêu giảm 12% lượng khí thải CO2 trên mỗi tấn bán ra với cam kết “tăng giá trị - giảm tác động”. Sika sẽ tối đa hóa thị phần điện tái tạo, giảm 15% năng lượng tiêu thụ trên mỗi tấn bán ra và hạn chế tối đa lượng nước tiêu thụ để bảo vệ nguồn nước tự nhiên, đồng thời giảm lượng chất thải phát sinh để bảo vệ sự bền vững. Để thực hiện kế hoạch phát triển theo xu hướng bền vững, Sika tập trung giải pháp xanh vào ba lĩnh vực: gia tăng độ bền, giảm lượng clinker và sàn mái xanh.

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
Ông Vasudevan Murugesu - Giám đốc Nghiên cứu và phát triển Sika Việt Nam.

Các giải pháp của Sika sẽ góp phần giảm lượng khí thải carbon bằng cách tăng tuổi thọ cho các công trình. Hơn thế nữa, các giải pháp của Sika cũng cho phép giảm hàm lượng clinker cao trong xi măng và bê tông, ngay cả khi sử dụng vật liệu kết dính bổ sung, vừa đảm bảo hiệu suất cao, vừa ít ảnh hưởng đến môi trường, đặc biệt là bảo vệ sức khỏe cho thầu thợ, gia chủ và những người sử dụng. Đặc biệt, Sika còn có một loạt các giải pháp sàn mái xanh không những giúp công trình bền vững lâu dài mà còn góp phần giảm thiểu tiêu thụ năng lượng, phủ xanh cho các thành phố.

Hiện tại, Sika đang sở hữu nhiều giải pháp, lợi thế sáng tạo và cải tiến cho phép chuyển đổi cần thiết. Trong đó có các giải pháp sàn mái tiết kiệm năng lượng, bền bỉ hướng đến sự bền vững. Cụ thể, các giải pháp cho mái xanh tiết kiệm năng lượng, giảm hiệu ứng đảo nhiệt và sàn mái mát hơn giúp giảm tiêu thụ năng lượng lên đến 15%. Đặc biệt, công nghệ Sika ViscoCrete cho phép giảm đến 40% hàm lượng nước trong bê tông giúp công trình tiết kiệm nước và bê tông cũng như xi măng mà vẫn đảm bảo được chất lượng công trình tuyệt hảo. Bên cạnh đó, để bảo vệ và tiết kiệm nước tối đa, Sika có hệ thống chống thấm giúp ngăn ngừa rò rỉ và ô nhiễm cho các hồ chứa, nhà máy xử lý nước.

Sika Việt Nam cho biết, để kéo dài tuổi thọ, tăng tính an toàn và hiệu quả năng lượng của kết cấu, Sika bổ sung thêm các giải pháp giúp gia cố, chống thấm, cách nhiệt, bảo vệ và sửa chữa các tòa nhà, công trình. Đặc biệt, keo trám Sika Power có thể giảm 50% trọng lượng bằng cách sử dụng vật liệu nhẹ dùng cho việc xây dựng các loại phương tiện giao thông nhẹ và xe điện.

Không chỉ vậy, nhằm hướng đến sự bền vững trong xây dựng, Sika Việt Nam còn có các chương trình tái chế giúp giảm gánh nặng cho các bãi chôn lấp như chương trình tái chế mái nhà bảo tồn tài nguyên thiên nhiên với 36.000 tấn vật liệu tái chế đã qua xử lý được chuyển từ các bãi chôn lấp.

Bằng việc cơ cấu tập trung theo các thị trường mục tiêu và vận hành theo hướng phân quyền tới địa phương, Sika sẵn sàng cung cấp đủ giải pháp đa dạng đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường Việt Nam, từ cơ sở hạ tầng như đường bê tông, cầu, cảng, sân bay, đường hầm đến các nhà máy công nghiệp, nhiệt điện, thủy điện, các dự án nhà máy thủy lợi, cấp nước và xử lý nước thải, xây dựng dân dụng hoặc các tòa nhà cao tầng.

Ông Vasudevan Murugesu cũng kiến nghị Bộ Xây dựng cùng các cơ quan và doanh nghiệp trong ngành Xây dựng tham gia vào việc nâng cao chất lượng xây dựng và tiêu chuẩn xây dựng tại Việt Nam. Việc này giúp cải thiện sức khỏe cư dân trong không gian sống và thầu thợ trong quá trình thi công. Ngoài ra, ông Vasudevan Murugesu đề xuất việc xác lập tiêu chuẩn có thể dựa trên các tiêu chuẩn xây dựng xanh có sẵn trên thị trường và phát triển, triển khai tiêu thuẩn TCVN dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế mới nhất, phù hợp với thị trường nội địa…

TS.Trịnh Minh Đạt - Viện Vật liệu xây dựng: Vai trò của vật liệu hữu cơ trong xây dựng công trình hiện đại

Những vật liệu hữu cơ sử dụng trong công trình hiện đại: Vật liệu hữu cơ – hydrocarbon engineering là những vật liệu có nguồn gốc từ hợp chất hữu cơ tự nhiên hoặc tổng hợp. Từ đó, vật liệu hữu cơ được chia 2 nhóm gồm vật liệu tự nhiên và vật liệu tổng hợp.

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
TS. Trịnh Minh Đạt - Viện Vật liệu xây dựng.

Từ thời xa xưa, khi con người xây dựng Tháp Chàm, hay thành cổ nhà Hồ (từ thế kỷ XIII – XV) cho đến những công trình như chùa Dâu Bắc Ninh (xây dựng năm 226), Bưu điện Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1891) đều sử dụng chất kết dính hữu cơ nối gạch, lớp đá, sơn phủ bảo vệ kết cấu cột bằng gỗ…

Ngày nay, tại các thành phố lớn, hầu hết công trình xây dựng đều có sử dụng những sản phẩm vật liệu hữu cơ như sơn bảo vệ bê tông cốt thép, sản phẩm ván sàn công nghiệp, gỗ công nghiệp…

Các chủng loại vật liệu hữu cơ được chia thành 5 nhóm: Bê tông và vữa; Công trình ngầm; Hoàn thiện công trình thô; Vật liệu hoàn thiện; Vật liệu có tính năng đặc biệt (xanh/tiết kiệm năng lượng).

Cụ thể, vật liệu hữu cơ sử dụng trong bê tông và vữa có sử dụng phụ gia hóa học (7 loại), phụ gia polyme (dạng bột, dạng lỏng), sợi PP, sợi PVA, hoặc một số phụ gia đặc biệt như bê tông ít co ngót, bê tông cốt thép biển, bê tông bơm, bê tông bọt…

Các phụ gia trên tồn tại trong vật liệu hữu cơ bê tông, vữa và sử dụng trong hầu hết các công trình thủy điện, công trình cầu cạn, cấu kiện bê tông kè hồ, làm đê chắn sóng công trình xây dựng dân dụng…

Căn cứ tiêu chuẩn quốc gia để kiểm soát quá trình sản xuất các vật liệu này gồm: TCVN 8826:2011; TCVN 10655:2015; TCVN 10654:2015; TCVN 12300:2018; TCVN 12392-2:2018; TCVN 13558:2022 (ASTM C1438-13); TCVN 13559:2022.

Vật liệu hữu cơ sử dụng trong xây dựng ngầm có thể kể đến: tấm HDPE, băng chặn nước PVC, dung dịch khoan polyme, sơn nhũ trương bitum, tấm trải chống thấm gốc bitum, chất kết nối bê tông cũ và bê tông mới, keo gắn thép – thép…

Tiêu chuẩn quốc gia áp dụng cho các chủng loại vật liệu hữu cơ sử dụng trong công trình xây dựng ngầm là: TCVN 9384:2012; TCVN 9480:2014; TCVN 6557:2000; TCVN 9065:2012; TCVN 9066:2012; TCVN 9066-(1-4):2012; TCVN 7951:2008; TCVN 7952-1(1-11):2008.

Đối với những vật liệu hữu cơ sử dụng trong hoàn thiện công trình thô, cũng rất đa dạng về chủng loại sản phẩm như: màng chống thấm FPO, chất chèn khe thi công lót và đổ nguội, chống thấm 2 thành phần, vữa dán gạch, keo chít mạch, vữa bảo vệ thép sử dụng để chống thấm kết cấu ngầm, chống thấm hầm chui, cầu đường, bể nước hay đập chứa nước…

Tiêu chuẩn quốc gia bao gồm: TCVN 9974:2013; TCVN 7305; TCVN 8491-(1-5):2011; TCVN 10097-(1-2):2013; TCVN 7899-2:2008 (ISO 13007-2:2005; TCVN 9204:2012; TCVN 9562:2017.

Một số các chủng loại vật liệu hữu cơ sử dụng để hoàn thiện công trình: bột bả tường, sơn lót, sơn phủ, giấy dán tường, ván sàn gỗ công nghiệp, cửa nhựa APS – PVC – composite, ván MDF, xốp PS.

Tiêu chuẩn quốc gia quy định: TCVN 7239:2014; TCVN 8652:2020; TCVN 11895:2017 (EN 235:2002); TCVN 11896:2017; TCVN 7960:2008; TCVN 11943:2018; TCVN 11352:2016; TCVN 7451:2004; TCVN 8266:2009; TCVN 13111:2020; TCVN 13181:2020.

Cuối cùng, xu thế hiện nay là các quốc gia sản xuất vật liệu hữu cơ tính năng đặc biệt (xanh/tiết kiệm năng lượng). Ngày nay, cũng như trong tương lai, hầu hết các ngôi nhà sẽ được sử dụng: công nghệ in 3D, phủ bề mặt hầu hết sử dụng sơn kị nước, sơn kháng khuẩn, hoặc các hợp chất mới, sơn chống nóng, sơn cách nhiệt và cản tia UV, xốp polystyren chống cháy…

Ông Đào Ngọc Long – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Greenpan: Định hướng phát triển tăng trưởng xanh, bền vững trong xây dựng

Việc phát triển chuỗi công trình hiệu quả bền vững, tiết kiệm năng lượng là mô hình lý tưởng được các quốc gia trên thế giới quan tâm, trong đó có Việt Nam. Đặt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, tiếp tục theo đuổi giải pháp công trình xanh trở thành yếu tố sống còn của hầu hết doanh nghiệp, nên Greenpan Pir Panel đã và đang định hướng phát triển tăng trưởng xanh, bền vững trong xây dựng.

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
Ông Đào Ngọc Long – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Greenpan.

Greenpan là doanh nghiệp vật liệu xây dựng chuyên sản xuất các tấm cách nhiệt Pir dùng trong xây dựng dân dụng, công nghiệp và lạnh công nghiệp, với các đặc tính ưu việt: Khả năng chống cháy, cách nhiệt, cách âm vượt trội. Công nghệ không sử dụng hợp chất HCFC, thân thiện với môi trường. Vật liệu nhẹ giúp giảm chi phí kết cấu xây dựng 20-25%. Tiết kiệm năng lượng sử dụng cho công trình 30%. Kiểu module giúp giảm thời gian thi công đến 50% so với thông thường.

Công nghệ kỹ thuật của Greenpan với dây chuyền sản xuất nhập khẩu 100% của châu Âu, trong đó các khâu sản xuất được tự động hóa, quy trình kiểm soát chất lượng chặt chẽ, từ việc thẩm định nguyên vật liệu đầu vào đến kiểm soát chặt chẽ thành phẩm đầu ra để đảm bảo mỗi m2 Panel đều đồng nhất về tính thẩm mỹ và đạt 100% theo tiêu chuẩn châu Âu. Bình quân công suất lên đến 20,000 m2/ngày, đáp ứng hoàn toàn yêu cầu khắt khe của khách hàng về tiến độ.

Hiện tại, dòng sản phẩm Panel Pir phù hợp cho nhiều loại công trình, từ thương mại dân dụng cho đến nhà máy công nghiệp như: Nhà xưởng, nhà máy dược, kho lạnh, phòng sạch, nông trại, trung tâm thương mại, bệnh viện, trường học…

Kiến nghị, hiện tại tiêu chuẩn của Greenpan chưa có ở Việt Nam nên Công ty rất mong muốn được các cơ quan chức năng hỗ trợ để tiêu chuẩn được phổ cập ở Việt Nam. Tạo hành lang pháp lý, đưa ra những quy định cụ thể về hợp chuẩn hợp quy tiêu chuẩn vật liệu xây dựng nhẹ/ vật liệu xanh không nung và thân thiện với môi trường như Pir để áp dụng trong các công trình xây dựng; Ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây không nung, loại nhẹ.

TS.Trần Bá Việt – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Bê tông Việt Nam: UHPC - Vật liệu lai giữa bê tông và thép cho xây dựng hạ tầng thế kỷ 21

Bê tông hiệu năng siêu cao (UHPC) sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với các loại bê tông truyền thống về cường độ cũng như độ bền, đã được sử dụng ở nhiều nước. Tại Việt nam đã được ứng dụng trong nhiều công trình giao thông, thủy lợi, quân sự.

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
TS.Trần Bá Việt – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Bê tông Việt Nam.

Bê tông hiệu năng siêu cao (UHPC) hay Ultra-High Performance Concrete là loại bê tông mới nên ít người biết tới, nhưng vật liệu sở hữu nhiều điểm vượt trội hơn so với các loại bê tông truyền thống về cường độ cũng như độ bền. UHPC là vật liệu tiềm năng mang lại nhiều kết cấu mới sáng tạo cho ngành công nghiệp xây dựng, độ bền vững cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tác động hiệu ứng khí thải. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và ứng dụng thành công UHPC đã tạo ra một bước tiến lớn đối với ngành Xây dựng nói chung và công nghệ bê tông của Việt Nam nói riêng từ cuối năm 2016.

Hiện nay, công nghệ và vật liệu bê tông UHPC ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn bắt đầu, điển hình là việc sửa chữa bề mặt cầu Thăng Long (Hà Nội) năm 2020, đạt kết quả cao sau hơn 2 năm đi vào sử dụng. UHPC là công nghệ của thế giới nhưng đã được Việt Nam hóa, phù hợp với điều kiện của Việt Nam...Dự kiến trong năm 2022, Việt Nam sẽ ra bộ tiêu chuẩn cho bê tông UHPC để rộng đường cho ứng dụng vật liệu ưu việt này trong ngành Xây dựng.

Sản phẩm UHPC có tính ưu việt như độ bền cao hơn, nhẹ hơn, chi phí đầu tư thấp hơn bê tông thường. Đặc biệt, UHPC thích ứng với công trình biển, ven biển, khu vực có xâm nhập mặn... Vật liệu sử dụng cho UHPC đều sử dụng vật liệu trong nước, nên rất chủ động. Với tính năng ưu việt nên sản phẩm UHPC sẽ mở ra triển vọng cho thị trường bê tông, nâng cao hiệu suất sử dụng công trình.

Ông Hoàng Mạnh Tân - Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Sơn Hà: Sử dụng bể ngầm thu gom nước mưa chống ngập lụt đô thị bằng vật liệu polimer

Tình trạng ngập lụt ở các thành phố lớn trên cả nước diễn ra khá phổ biến. Cụ thể, tại Thủ đô Hà Nội là đô thị bị ảnh hưởng lớn nhất của tình trạng ngập lụt cục bộ mỗi khi có mưa lớn, bão, gây tắc đường nghiêm trọng, phá hủy tài sản, ngập nước ôtô, xe máy và ảnh hưởng cuộc sống người dân. Tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng thường xuyên xảy ra ngập lụt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều mặt đời sống.

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
Ông Hoàng Mạnh Tân - Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Sơn Hà.

Không chỉ có Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mà hầu hết các thành phố lớn của nước ta đều đã trải qua ngập lụt như: Đà Nẵng, Lai Châu, Phú Quốc, Nha Trang… gây nguy hiểm tính mạng người dân; nhiều cơ sở sản xuất dịch vụ ngừng hoạt động, du lịch bị ngừng trệ, hàng hóa không thể lưu thông, ô nhiễm môi trường và gây ra nhiều hậu quả về kinh tế, đời sống, sản xuất và dịch vụ.

Trên thế giới, hầu hết các thành phố lớn đều có những giải pháp chống ngập lụt đô thị tối ưu. Ở Thủ đô Kuala Lumpur – Malaysia sử dụng mô hình chống ngập là hầm đường bộ thoát nước dưới những con đường. Singapore thì chống ngập bằng cách xây dựng hệ thống hồ điều hòa vệ tinh, hồ điều hòa tập trung lớn.

Còn ở Thủ đô Tokyo, Nhật Bản các giải pháp được sử dụng là: Xây dựng hệ thống dẫn nước ngầm, dẫn nước từ sông nhỏ ra sông chính Endo và xây dựng hệ thống giếng chứa nước ngầm.

Hà Lan cũng có những giải pháp tối ưu để hạn chế tình trạng ngập lụt cho thành phố: Xây dựng hệ thống sông nhỏ, kênh dẫn nước dày đặc trong nội đô; hệ thống đê biển bao quanh thành phố; hệ thống kè biển thông minh, các cửa sông; hệ thống bơm thoát nước.

Nguyên nhân chính gây ngập lụt đô thị tại Việt Nam là do lượng nước mưa đổ xuống nhanh, nhiều, trên diện rộng. Hệ thống thoát nước không đáp ứng công suất tiêu thoát nước. Bên cạnh đó, quy hoạch thoát nước đô thị không đáp ứng: nước đổ dồn từ khu vựng cao về khu vực thấp gây ngập úng cục bộ.

Nói về giải pháp, ông Hoàng Mạnh Tân – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Sơn Hà đưa ra các giải pháp thông minh giải quyết 3 vấn đề: Thu gom, chứa nước mưa, tái sử dụng cho các hoạt động con người; giảm áp lực cho hệ thống thoát nước đô thị đầu cơn mưa; giảm ngập lụt đô thị do nước mưa đổ dồn từ khu vực cao sang khu vực trũng của thành phố.

Giải pháp số 1: Bể ngầm chứa nước mưa có tác dụng thu gom, trữ nước mưa từ mái nhà. Dung tích của bể từ 2, 3, 4 – 10m3 lắp đặt cho công trình nhà riêng. Ước tính hiệu quả của bể: Thành phố Hà nội lắp 100.000 công trình nhà dân, mỗi công trình lắp 1 bể chứa ngầm 4m3 thì tổng lượng nước mưa giữ lại trong mỗi trận mưa là: 100.000 x 4m3 = 400.000m3.

Giải pháp số 2: Bể nước ngầm chứa nước mưa các công trình có dung tích từ 50 – 1.000m3. Đây là giải pháp thu gom nước mưa tập trung, tái sử dụng lượng nước tích trữ.

Những giải pháp của Sơn Hà được nghiên cứu phù hợp với khí hậu cũng như địa hình đô thị Việt Nam. Tuy nhiên, để áp dụng thành công cần sự vào cuộc của các cơ quan chức năng ban hành quy định bắt buộc các công trình xây dựng (nhà dân, công trình công cộng, nhà chung cư, văn phòng, nhà hàng, trường học, bệnh viện…) bù đắp diện tích bê tông hóa bằng thể tích bể ngầm chứa nước mưa tương đương, quy đổi m2 bê tông hóa diện tích đất: lớn hơn hoặc bằng lưu lượng nước mưa thấm xuống đất khi mưa đổ xuống. Các công trình ở mọi khu vực đô thị phải có bể chứa nước mưa ngầm, để đảm bảo khu vực cao giữ lại nước mưa, hạn chế lượng lớn nước mưa chảy về vùng trũng. Cấm một số dịch vụ kinh doanh sử dụng nước máy: Rửa xe, tưới cây, rửa đường, rửa nền, bắt buộc dùng nước mưa tái sử dụng thay thế.

Ông Nguyễn Minh Thành - Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Dây và cáp điện Thượng Đình (Cadisun): Chất lượng và sự an toàn luôn đặt trên hết

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
Ông Nguyễn Minh Thành - Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Dây và cáp điện Thượng Đình.

Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều nhãn hiệu cáp điện được sử dụng cho các công trình điện, công trình xây dựng và hạ tầng kỹ thuật. Tuy nhiên, để chọn ra những nhãn hiệu dây cáp điện có công nghệ sản xuất ưu việt, chất lượng sản phẩm tốt bền, an toàn, tiết kiệm điện năng cho công trình không phải là điều dễ dàng. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước đua nhau cạnh tranh về giá cả, về thị trường… và đôi khi chất lượng sản phẩm bị xem nhẹ. Nhiều vụ hỏa hoạn, cháy nổ… xảy ra mà nguyên nhân một phần do dây cáp điện kém chất lượng.

Cadisun là doanh nghiệp lâu năm đã đầu tư cho các dây chuyền thiết bị hiện đại theo tiêu chuẩn chất lượng châu Âu. Với sự có mặt trong lĩnh vực xây dựng, điện bằng các sản phẩm chất lượng cao. Sản phẩm của Cadisun sẽ tiếp tục đồng hành với tiêu chí “Tốt, bền, an toàn, tiết kiệm điện”.

Ông Trần Việt Dung - CEO Lavastone: Công nghệ kết dính trong bảo vệ và trang trí bề mặt công trình

Sự xuất hiện các sản phẩm ứng dụng công nghệ mineral silicate chuyên dụng trong công tác phủ, trang trí, bảo vệ bề mặt cho sàn và tường đã thể hiện ưu thế vượt trội hơn so với các công nghệ khác hiện có trên thị trường. Đó là những vật liệu xây dựng xanh, thân thiện với môi trường, được nhiều khách hàng lựa chọn nhằm đảm bảo cho công trình có tuổi thọ bền vững hơn, đồng thời, đảm bảo sức khoẻ cho người sử dụng.

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
Ông Trần Việt Dung - CEO Lavastone.

Sản phẩm ứng dụng công nghệ mineral silicate được phân tích với nhiều ưu điểm vượt trội. Thứ nhất, đó là công nghệ kết dính duy nhất trên thị trường có được các đặc tính như: Tổng hợp được hầu hết các ưu điểm của các công nghệ kết dính khác. Khắc phục được rất nhiều những nhược điểm của các công nghệ kết dính đang hiện hữu. Có những ưu điểm mà các chất kết dính khác không có hoặc không thể đạt được. Trung tính, dễ dàng trong thiết kế sản phẩm, kết dính tốt với nhiều loại vật liệu. Công nghệ độc quyền, được cấp bằng sáng chế và bảo hộ toàn cầu. Công thức chế tạo rất phức tạp nên hầu như không thể sao chép. Nguồn nguyên vật liệu dồi dào, dễ dàng tìm kiếm và thay thế. Dễ dàng đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn cũng như nhiều loại chứng chỉ.

Công nghệ kết dính mineral silicate là công nghệ xuất phát từ việc tái kích hoạt tro núi lửa hoặc/và các loại vật liệu tương tự có chứa hàm lượng silic cao để tạo thành vật liệu kết dính đặc biệt có được những ưu điểm vượt trội.

Công nghệ vật liệu kết dính mineral silicate với những đặc tính ưu việt như độ bám dính cao, chịu mài mòn cao, đơn giản trong ứng dụng và thi công... đã giúp dần thay thế các sản phẩm sử dụng chất kết dính như vôi, xi măng và nhựa trong nhiều ứng dụng. Công nghệ trộn vữa khô tiên tiến với dây chuyền sản xuất vữa khô siêu gọn đạt chuẩn công nghệ 4.0. Công nghệ bột màu tự phân tán, chống vón cục và chống lão hóa.

Công nghệ kết dính mineral silicate được đánh giá là xanh và thân thiện, an toàn với con người; tác động tối thiểu, có lợi tới môi trường.

Hiện nay, Lavastone cung cấp ra thị trường bao gồm các sản phẩm như: Nguyên vật liệu chính, hóa chất trộn sẵn dưới dạng black box. Là các sản phẩm đã được thử nghiệm, lập công thức và trộn sẵn để các khách hàng là các nhà sản xuất vữa khô thành phẩm có thể trộn cùng nguyên vật liệu có sẵn tại địa phương của họ để sản xuất ra các thành phẩm vữa khô trộn sẵn theo yêu cầu. Các loại sản phẩm này có thể là sản phẩm sử dụng vật liệu kết dính mineral silicate, xi măng, vôi...Hiện tại, chúng tôi có thể cung cấp hơn 300 loại sản phẩm đạt tiêu chuẩn châu Âu phục vụ sản xuất thành phẩm vữa khô trộn sẵn cho hầu hết các ứng dụng từ đơn giản tới phức tạp.

Ngoài ra, thương hiệu Lavastone còn có bột màu cao cấp được xử lý để có được khả năng tự phân tán trong bột và trong nước, kèm theo các khả năng như chống lão hóa, chống vón cục. Ngoài việc cung cấp các sản phẩm, Lavastone cùng các chuyên gia tới từ châu Âu cũng cung cấp tới khách hàng các dịch vụ tư vấn kỹ thuật và đào tạo chuyên sâu cho công tác thiết kế nhà máy, phát triển sản phẩm, quản lý chất lượng, kiểm tra đánh giá nguyên vật liệu đầu vào, thí nghiệm thành phẩm, đăng ký các loại chứng chỉ, đào tạo thi công.

Hiện nay, vấn đề giá thành của các thành phẩm ứng dụng công nghệ mineral silicate kèm theo các lợi ích nêu trên là rất hợp lý so với các loại vật liệu khác. Do đó, khi khách hàng mua các sản phẩm này là họ trả tiền cho các lợi ích, các tính năng có được từ các công nghệ do doanh nghiệp cung cấp. Qua đó, giúp họ thoát khỏi rất nhiều vướng mắc, rủi ro do các công nghệ hiện có trên thị trường mang lại. Đồng thời cũng giúp họ nâng cao giá trị thương hiệu, lợi thế cạnh tranh, lợi nhuận và nhiều lợi ích khác nữa.

Ông Phùng Đức Khai – Giám đốc Công ty TopAsia Hà Nội: Đưa công nghệ cao vào ứng dụng thực tiễn

Tấm nhựa Polycarbonate hay còn gọi là tấm nhựa kính cường lực ASIA LITE được sản xuất trên dây chuyền tiên tiến nhất hiện nay cam kết phủ Nano chống tia UV, tia cực tím. Sản phẩm được làm từ Hạt nhựa Polycarbonate nguyên sinh của các hãng nổi tiểng trên thế giới như Lotte của Hàn Quốc, Markolon của Đức, Sabic của Ả rập.

Hội thảo: Xu hướng công nghệ - vật liệu trong công trình xây dựng
Ông Phùng Đức Khai – Giám đốc Công ty TopAsia Hà Nội.

Tấm nhựa kính cường lực ASIA LITE được nhiều chủ đầu tư các dự án lớn tin dùng bởi những ưu điểm vượt trội như: Sản phẩm được phủ Nano chống tia UV, chống tia cực tím; Độ dày, kích thước, màu sắc đa dạng. Khả năng chống va đập cao hơn đến 200 lần so với kính. Khả năng truyền ánh sáng lên đến 90% so với kính. Dễ dàng thi công, uốn cong, trọng lượng nhẹ giúp giảm chi phí khung xương, chi phí vận chuyển. Khả năng chống cháy đạt chuẩn. Do đó, sản phẩm có thể sử dụng ở những vị trí có nhiệt độ cao. Chịu nhiệt độ từ -20 độ C đến 90 độ C, nên sản phẩm được sử dụng trong những môi trường khắc nghiệt.

Với nhiều ưu điểm vượt trội kể trên, tấm nhựa kính cường ASIA LITE sẽ là lựa chọn hoàn hảo bởi các nước phát triển trên thế giới, các nhà đầu tư của các dự án lớn đã tin tưởng sử dụng ở các hạng mục công trình như: Mái che nhà thi đấu, mái che nhà ga đón khách, mái che cầu vượt đi bộ, mái che bể bơi, vách ngăn trên đường cao tốc...Tuy nhiên, sản phẩm cũng có nhược điểm, đó chính là khả năng dễ bị xước hơn kính. Vì vậy, để tránh bị trầy xước thì khi thi công, chủ đầu tư nên lựa chọn lắp đặt ở những khu vực ít bị tiếp xúc, ít va chạm để tránh bị trầy xước.

Kết thúc Hội thảo, thay mặt Ban tổ chức, Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng Phạm Văn Bắc đã cảm ơn các đại biểu, các chuyên gia đã tham gia Hội thảo và có những đóng góp cho Hội thảo thành công. Những ý kiến đóng góp với Hội thảo sẽ tiếp tục được Báo điện tử Xây dựng truyền tải trên các ấn phẩm trong thời gian tới.

Theo Nhóm Phóng viên/Báo Xây dựng
Link gốc: https://baoxaydung.com.vn/hoi-thao-xu-huong-cong-nghe-vat-lieu-trong-cong-trinh-xay-dung-340830.html

Nổi bật trang chủ

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW: 5 nhóm nhiệm vụ, 33 nhiệm vụ cụ thể

Tìm giải pháp cho công tác lập quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị bền vững
Quốc hội đánh giá cao Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị trong lần đầu trả lời chất vấn
Không sử dụng quỹ đất sau khi di dời để xây dựng chung cư cao tầng sai quy hoạch

Đọc thêm

Gia Lâm (Hà Nội): Đề nghị kiểm tra, xử lý hàng loạt công trình cải tạo, sửa chữa sai phép “băm nát” quy hoạch Khu đô thị 31ha

Gia Lâm (Hà Nội): Đề nghị kiểm tra, xử lý hàng loạt công trình cải tạo, sửa chữa sai phép “băm nát” quy hoạch Khu đô thị 31ha

Được hình thành từ hơn 13 năm nay, Khu đô thị 31ha thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm (Hà Nội) là điểm nhấn quan trọng của diện mạo đô thị huyện Gia Lâm. Tuy nhiên, việc buông lỏng quản lý về trật tự xây dựng đô thị dẫn đến tình trạng xây dựng, cải tạo không phép, sai phép diễn ra tràn lan, “băm nát” quy hoạch của Khu đô thị này.
UBND Thành phố Hà Nội công bố 6 Quyết định về công tác cán bộ

UBND Thành phố Hà Nội công bố 6 Quyết định về công tác cán bộ

Chiều 3/11, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị công bố quyết định về công tác cán bộ. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Trần Sỹ Thanh chủ trì Hội nghị.
Quảng Bình: Tạo dấu ấn cho khu dân cư kiểu mẫu

Quảng Bình: Tạo dấu ấn cho khu dân cư kiểu mẫu

Xây dựng nông thôn mới không thể theo hướng “mặc đồng phục” cho tất cả các địa phương, mà cần phải xem xét kỹ quy hoạch, kiến trúc cảnh quan nông thôn của từng vùng, từng địa phương để triển khai cho phù hợp.
Cần Thơ: Công bố danh mục 64 hồ, kênh, rạch không được san lấp

Cần Thơ: Công bố danh mục 64 hồ, kênh, rạch không được san lấp

UBND thành phố Cần Thơ vừa ban hành Quyết định số 3771/QĐ-UBND phê duyệt, công bố danh mục hồ, kênh, rạch không được san lấp trên địa bàn. Theo Quyết định này, danh mục có 64 hồ, kênh, rạch không được san lấp.
Bộ Giao thông vận tải đồng ý kéo dài thời gian đưa cao tốc Cam Lộ - La Sơn vào khai thác

Bộ Giao thông vận tải đồng ý kéo dài thời gian đưa cao tốc Cam Lộ - La Sơn vào khai thác

Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh cho biết, Bộ Giao thông vận tải vừa chấp thuận cho kéo dài thời gian thực hiện tuyến chính Dự án cao tốc Cam Lộ - La Sơn đến ngày 30/11/2022 và sẽ đưa vào khai thác theo chỉ đạo của Chính phủ.
Hòa Bình: Tập trung nguồn lực phát triển đô thị bền vững

Hòa Bình: Tập trung nguồn lực phát triển đô thị bền vững

Thực hiện Chương trình phát triển đô thị (PTĐT) quốc gia giai đoạn 2012 – 2020, Kế hoạch phân loại đô thị toàn quốc giai đoạn 2021 – 2030, UBND tỉnh Hòa Bình đã triển khai các giải pháp quy hoạch, quản lý quy hoạch, huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng các dự án, công trình trọng điểm, phát triển công nghiệp dịch vụ gắn với PTĐT, PTĐT gắn với nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
Bá Thước (Thanh Hóa): Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên, khoáng sản và đất đai, trật tự xây dựng

Bá Thước (Thanh Hóa): Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên, khoáng sản và đất đai, trật tự xây dựng

Là huyện miền núi, có hệ thống sông Mã chảy qua gần 40km, với trữ lượng cát, sỏi dồi dào, để phục vụ nhu cầu vật liệu xây dựng, những năm qua trên địa bàn huyện Bá Thước (Thanh Hóa) đã hình thành một số điểm khai thác cát sỏi. Nhưng đến nay, việc khai thác khoáng sản được quản lý chặt, toàn huyện chỉ có 1 đơn vị được cấp phép khai thác khoáng sản là Công ty Cổ phần Xây dựng hạ tầng Hồng Kỳ và 1 dự án nạo vét, khơi thông dòng chảy lòng hồ Nhà máy Thủy điện Bá Thước 2.
Vĩnh Phúc – Vùng đất của những cơ hội

Vĩnh Phúc – Vùng đất của những cơ hội

Việt Nam đang là một trong những trung tâm sản xuất lớn nhất châu Á với tốc độ tăng trưởng ổn định, kinh tế định hướng xuất khẩu, nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), lực lượng lao động trẻ và vị trí chiến lược. Các ngành công nghiệp thâm dụng lao động đang dần được chuyển đổi và thay thế, cùng với đó là sự lạc quan của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đối với thị trường. Tại khu vực vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tỉnh Vĩnh Phúc đang nổi lên như một điểm đến đầu tư hấp dẫn với hệ thống hạ tầng tốt và sự phát triển bài bản.
Dự án đầu tư công, lập kế hoạch chọn nhà thầu thế nào?

Dự án đầu tư công, lập kế hoạch chọn nhà thầu thế nào?

Việc lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu các gói thầu thuộc dự án được thực hiện trên cơ sở kế hoạch bố trí vốn cho cả dự án mà không bắt buộc chỉ được lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu theo kế hoạch vốn của từng năm.
Khánh Hòa: Chấm dứt hoạt động Khu du lịch sinh thái đảo Trí Nguyên

Khánh Hòa: Chấm dứt hoạt động Khu du lịch sinh thái đảo Trí Nguyên

Tỉnh Khánh Hòa vừa có văn bản chấm dứt hoạt động dự án Khu du lịch sinh thái đảo Trí Nguyên Resort & Spa, thuộc đảo Hòn Miễu, vịnh Nha Trang, thành phố Nha Trang.
Mua vật liệu xây dựng giá tốt tại VLXD Hiệp Hà

Mua vật liệu xây dựng giá tốt tại VLXD Hiệp Hà

Đá 1x2 trong xây dựng có nhiều ứng dụng quan trọng không thể thiếu trong các dự toán công trình hiện nay. Trên thị trường hiện có nhiều mức giá khác nhau về loại đá này. Cùng Vật liệu Xây dựng (VLXD) Hiệp Hà tìm hiểu về giá đá 1x2 cùng những công dụng, chức năng của loại đá này.
Vì sao vật liệu xây dựng sắt thép Toàn Tâm lại được nhiều nhà thầu lớn ưu ái?

Vì sao vật liệu xây dựng sắt thép Toàn Tâm lại được nhiều nhà thầu lớn ưu ái?

Hiện nay, ngành cung cấp vật liệu xây dựng (VLXD) sắt thép đang có Công ty TNHH TM SX Toàn Tâm là một trong những cái tên thương hiệu nổi bật, được nhiều nhà thầu, khách hàng ưa chuộng. Vì sao giữa vô vàn thương hiệu, Toàn Tâm lại nhận được sự ưu ái này? Hãy cùng tham khảo qua bài viết sau nhé!
Vật liệu xanh với những thách thức mới

Vật liệu xanh với những thách thức mới

Chiều 15/11, tại Hà Nội dưới sự bảo trợ của Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam, Hội Kiến trúc sư Việt Nam và Báo Xây dựng, Hội thảo khoa học “Vật liệu xanh với những thách thức mới” chính thức được tổ chức.
Nam Định: Tập đoàn Xuân Thiện khởi công dự án đầu tiên trong Tổ hợp dự án thép gần 100.000 tỷ đồng

Nam Định: Tập đoàn Xuân Thiện khởi công dự án đầu tiên trong Tổ hợp dự án thép gần 100.000 tỷ đồng

Sáng 14/11, tại xã Nghĩa Hải, huyện Nghĩa Hưng (Nam Định), Tập đoàn Xuân Thiện đã khởi công xây dựng dự án Nhà máy sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn với công suất 350.000 tấn/năm, đây cũng là dự án được khởi công đầu tiên trong Tổ hợp dự án thép xanh Xuân Thiện Nam Định có tổng mức đầu tư 98.900 tỷ đồng.
Quảng Ngãi không hạn chế tổ chức tham gia đấu giá mỏ cát “khổng lồ” trên sông Trà Khúc

Quảng Ngãi không hạn chế tổ chức tham gia đấu giá mỏ cát “khổng lồ” trên sông Trà Khúc

Trên cơ sở phương án khai thác sơ bộ mỏ cát Tịnh An – Nghĩa Dũng trên sông Trà Khúc, UBND tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường lập các nội dung yêu cầu trong hồ sơ đấu giá theo quy định, để các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, cân nhắc trong quá trình tham gia đấu giá quyền khai thác.
Phần lớn các chủ mỏ đất ở Quảng Ngãi đã tiến hành kê khai giá

Phần lớn các chủ mỏ đất ở Quảng Ngãi đã tiến hành kê khai giá

Phần lớn các chủ mỏ đất làm vật liệu đắp và san lấp công trình trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã tiến hành kê khai giá theo yêu cầu của cơ quan chức năng.
Hội thảo khoa học thường niên năm 2022 – Lĩnh vực vật liệu và xây dựng

Hội thảo khoa học thường niên năm 2022 – Lĩnh vực vật liệu và xây dựng

Ngày 4/11 tại Hà Nội, Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) tổ chức Hội thảo khoa học thường niên năm 2022 – Lĩnh vực vật liệu và xây dựng. Hội thảo là diễn đàn để các nhà khoa học trẻ thể hiện năng lực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học thông qua việc giới thiệu các kết quả nghiên cứu và ứng dụng. Sau Hội thảo đã có 10 tác giả đạt giải, kỳ vọng sẽ đem đến hiệu quả, ý nghĩa thiết thực trong ngành công nghiệp xây dựng.
Giải pháp trong chiến lược phát triển vật liệu xây không nung

Giải pháp trong chiến lược phát triển vật liệu xây không nung

Để tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, năm 2010 Bộ Xây dựng đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Quyết định 567/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình phát triển vật liệu xây không nung (VLXKN) giai đoạn 2010 đến 2020 với mục tiêu chung là phát triển sản xuất và sử dụng VLXKN để thay thế gạch đất sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, giảm thiểu khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm môi trường, giảm chi phí xử lý phế thải của các ngành Công nghiệp, tiết kiệm nhiên liệu than, đem lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn xã hội. Cụ thể là phát triển sản xuất và sử dụng VLXDKN thay thế gạch đất sét nung đạt tỷ lệ 20-25% vào năm 2015, 30-40% vào năm 2020.
Hà Nội: Tháo gỡ khó khăn về quản lý, khai thác cát sỏi lòng sông

Hà Nội: Tháo gỡ khó khăn về quản lý, khai thác cát sỏi lòng sông

Tính đến thời điểm hiện tại, Hà Nội vẫn còn 124/201 các bãi cát, sỏi, vật liệu xây dựng ven các con sông, chiếm tỷ lệ hơn 61% các bãi không đủ thủ tục, điều kiện để hoạt động. Bên cạnh đó vẫn diễn ra tình trạng khai thác cát trái phép ở địa bàn giáp ranh.
Thực trạng cát xây dựng: Khi cầu vượt xa cung

Thực trạng cát xây dựng: Khi cầu vượt xa cung

Theo tính toán của Viện Vật liệu xây dựng thì nhu cầu sử dụng cát xây dựng cả nước hàng năm khoảng 130 triệu m3, trong khi công suất cấp phép khai thác cát xây dựng khoảng 62 triệu m3/năm. Như vậy, nguồn cung hợp pháp chỉ đáp ứng được từ 40-50% nhu cầu cát xây dựng, sự thiếu hụt nghiêm trọng này kéo theo nhiều hệ lụy.
Giải pháp toàn diện cho các công trình điện gió

Giải pháp toàn diện cho các công trình điện gió

Không chỉ tập trung vào thế mạnh truyền thống là phụ gia vật liệu xây dựng, từ năm 2018 Tập đoàn Sika AG (Sika) đã cung cấp cho hơn một nửa số tuabin gió được lắp đặt trên toàn cầu hiện nay đang sử dụng ít nhất 1 sản phẩm của Sika và hơn 10.000 trụ thép được bảo vệ bằng lớp phủ chống ăn mòn Sika, 25% cánh tuabin gió trên toàn thế giới được kết dính bằng chấy kết dính Sika…
Thái Nguyên: Thiếu đá xây dựng do khó khăn nguồn vật liệu nổ

Thái Nguyên: Thiếu đá xây dựng do khó khăn nguồn vật liệu nổ

Thời gian gần đây, nhiều mỏ khai thác đá tại Thái Nguyên đã phải tạm dừng hoạt động do thời hạn cấp phép vật liệu nổ đã hết và chưa được cấp mới.
Thúc đẩy phát triển công trình xanh – Vai trò tích cực của doanh nghiệp ngành VLXD

Thúc đẩy phát triển công trình xanh – Vai trò tích cực của doanh nghiệp ngành VLXD

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, ngày càng nhiều quốc gia có xu hướng thúc đẩy xây dựng các kiến trúc công trình xanh, thân thiện với môi trường. Đồng hành cùng Chính phủ thực hiện mục tiêu đó, Eurowindow - doanh nghiệp tiêu biểu trong ngành vật liệu xây dựng đã và đang có nhiều động thái hưởng ứng tích cực.
Bắc Kạn: Hơn 1.000 khu vực, vị trí cấm và tạm thời cấm hoạt động khoáng sản

Bắc Kạn: Hơn 1.000 khu vực, vị trí cấm và tạm thời cấm hoạt động khoáng sản

Theo Quyết định mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có 1.038 khu vực, vị trí cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản.
Quảng Ngãi đấu giá mỏ cát lớn chưa từng có trên sông Trà Khúc

Quảng Ngãi đấu giá mỏ cát lớn chưa từng có trên sông Trà Khúc

Tỉnh Quảng Ngãi đang xây dựng phương án khả thi nhất để tổ chức đấu giá quyền khai thác mỏ cát lớn nhất từ trước đến nay trên sông Trà Khúc, đoạn chảy qua trung tâm thành phố Quảng Ngãi.
Hà Tĩnh: Áp lực lạm phát “đe doạ” tăng trưởng ngành Xây dựng

Hà Tĩnh: Áp lực lạm phát “đe doạ” tăng trưởng ngành Xây dựng

Bão giá nguyên vật liệu thời gian qua đã bào mòn biên lợi nhuận của hầu hết các doanh nghiệp ngành Xây dựng, tốc độ tăng trưởng của toàn ngành thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Cùng với đó, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công của một số công trình, dự án chậm hơn so với cùng kỳ làm cho doanh nghiệp ngành Xây dựng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức hơn.
Bộ Xây dựng công bố giá vật liệu, chỉ số giá xây dựng dự án đường bộ cao tốc Bắc – Nam

Bộ Xây dựng công bố giá vật liệu, chỉ số giá xây dựng dự án đường bộ cao tốc Bắc – Nam

Bộ Xây dựng vừa ban hành Công văn số 4682/BXD-KTXD hướng dẫn về việc công bố giá vật liệu, chỉ số giá xây dựng để triển khai Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2021 – 2025.
Bê tông là vật liệu chủ đạo để đạt phát thải ròng khí nhà kính bằng “0”

Bê tông là vật liệu chủ đạo để đạt phát thải ròng khí nhà kính bằng “0”

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ VI (2022 – 2025) Hội Bê tông Việt Nam, ngày 20/10, các đại biểu đã báo cáo tham luận về Chiến lược phát triển và hệ thống tiêu chuẩn bê tông Việt Nam; nghiên cứu phát triển hệ thống bê tông và đánh giá tổng quan hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bê tông trong nhiệm kỳ 2017 – 2022. Tiến sỹ Lê Trung Thành khẳng định: Bê tông là vật liệu chủ đạo trong xây dựng để hướng tới mục tiêu phát thải ròng khí nhà kính bằng “0” vào năm 2050 tại Việt Nam. Báo cáo về Chiến lược phát triển và hệ thống tiêu chuẩn bê tông Việt Nam, Tiến sỹ Lê Minh Long, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường (Bộ Xây dựng) cho biết, số lượng các tiêu chuẩn về vật liệu và cấu kiện xây dựng hiện nay là 519 tiêu chuẩn (chiếm 62%) và biên soạn mới là 718 tiêu chuẩn (chiếm 57%). Riêng tiêu chuẩn Việt Nam trong lĩnh vực bê tông, xi măng và các sản phẩm liên quan đến bê tông cũng chiếm số lượng khá lớn với 76 tiêu chuẩn hiện tại và 272 tiêu chuẩn mới. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang biên soạn các tiêu chuẩn thiết kế kết cấu và địa kỹ thuật theo định hướng mới, dự kiến sẽ dựa theo nền tảng của các tiêu chuẩn châu Âu Eurocode (EN). Bộ đang tập trung biên soạn các tiêu chuẩn quan trọng đến tháng 5/2024, phương án tiếp cận dựa vào 10 Bộ tiêu chuẩn của Anh quốc từ BS EN 1990 đến BS EN 1999, bao gồm 58 tiêu chuẩn. Tuy nhiên, Bộ Xây dựng cũng dự kiến cần khoảng thời gian 10 năm để bảo đảm đồng bộ hơn 1.000 tiêu chuẩn Việt Nam theo định hướng mới. Để phục vụ cho việc tính toán được thống nhất theo bộ tiêu chuẩn thiết kế kết cấu bê tông, các tiêu chuẩn về vật liệu bê tông liên quan đến kết cấu chịu lực bằng bê tông và bê tông cốt thép được định hướng theo EN cho thống nhất, tránh sai sót trong thiết kế, thi công và nghiệm thu công trình. Trong báo cáo nghiên cứu phát triển hệ thống bê tông, Tiến sỹ Lê Trung Thành cho biết, bê tông đang có xu hướng phát triển ngày càng sâu rộng, góp phần phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội trên toàn cầu. Hàng năm, trên toàn cầu ước tính sản xuất khoảng 35 tỷ tấn bê tông (tương đương với con số 4,4 tấn bê tông/người); 4,2 tỷ tấn xi măng; 28 tỷ tấn cát và đá; 2,8 tỷ tấn nước cộng với phụ gia hóa học và phụ gia khoáng, các loại nguyên vật liệu thay thế xi măng. Hiện nay, việc nghiên cứu phát triển bê tông đang phát triển theo xu hướng bê tông tính năng siêu cao, bê tông in 3D, bê tông cốt liệu tái chế, bê tông tự hàn gắn, bê tông graphic, bê tông phát sáng, bê tông tích trữ năng lượng, bê tông rỗng tiêu nước, bê tông chịu nhiệt, bê tông chịu lửa, bê tông đúc sẵn, mô hình thông tin xây dựng sử dụng vật liệu bê tông và trí tuệ nhân tạo, kết nối vạn vật trong thi công sản xuất bê tông… Tiến sỹ Lê Trung Thành khẳng định: Bê tông vẫn là vật liệu chủ đạo trong xây dựng, hướng đến mục tiêu phát thải ròng bằng “0” đến năm 2050 do Chính phủ Việt Nam đặt ra. Các loại bê tông chất lượng cao, bê tông chất lượng siêu cao sử dụng phế thải công nghiệp và nông nghiệp, bê tông bền môi trường biển, bê tông nhẹ, bê tông cốt liệu tái chế, bê tông in 3D… tiếp tục được nghiên cứu và ứng dụng tối ưu cho các kết cấu bê tông đổ tại chỗ cũng như cấu kiện đúc sẵn. Trong thời gian tới, ngành công nghiệp xi măng và bê tông sẽ tiếp tục có đóng góp quan trọng cho việc thực hiện cam kết tại COP26 của Việt Nam là giảm phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050. Đánh giá tổng quan hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bê tông trong nhiệm kỳ 2017 - 2022, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Phan Vũ, Phan Khắc Long đề cập đến những khó khăn chung của các công ty sản xuất bê tông. Theo đó, vào giai đoạn 2018 - 2019, các doanh nghiệp đã phát triển ổn định với sự xuất hiện của nhiều nhà máy mới. Nhưng đến giai đoạn 2019 - 2021, các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trước ảnh hưởng lớn của đại dịch Covid-19. Từ cuối năm 2021 đến 6 tháng đầu năm 2022, các doanh nghiệp phục hồi phát triển nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn do đứt gãy chuỗi cung ứng khiến giá nguyên vật liệu tăng cao. Dự báo từ cuối quý III/2022 đến năm 2023, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ còn sụt giảm mạnh do dòng tiền lưu chuyển chậm. Mặc dù vậy, ngành Bê tông vẫn có nhiều điểm sáng với các sản phẩm và công nghệ nổi bật như các sản phẩm ứng dụng công nghệ UHPC, các sản phẩm cấu kiện đúc sẵn như tấm tường Acotech, ống cống đúc đẩy, vỏ vách hầm Metro, công nghệ xây dựng bằng phương pháp in 3D, công nghệ cọc bê tông ly tâm không vữa thừa, công nghệ xây nhà biệt thự bằng cấu kiện đúc sẵn, công nghệ thiết lập hệ điện mặt trời áp mái cung cấp điện năng cho dây chuyền sản xuất cọc bê tông ly tâm, giải pháp bê tông cho công trình đường thủy, các sản phẩm vật liệu xây dựng như xi măng với chất phụ trợ như xỉ lò cao hay tro bay của các nhà máy nhiệt điện, đá xay thay thế 100% cát trong cấp phối bê tông, bê tông bột UHPC trộn sẵn, bê tông xỉ trộn sẵn…
Hưng Yên: Tăng cường công tác quản lý hoạt động khoáng sản

Hưng Yên: Tăng cường công tác quản lý hoạt động khoáng sản

UBND tỉnh Hưng Yên vừa có công văn yêu cầu các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố, thị xã triển khai hàng loạt biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động khoáng sản trên địa bàn.
Chuẩn bị diễn ra Triển lãm Vietbuild với chủ đề Nhà ở - Kiến trúc và Trang trí nội ngoại thất

Chuẩn bị diễn ra Triển lãm Vietbuild với chủ đề Nhà ở - Kiến trúc và Trang trí nội ngoại thất

Từ ngày 19/10 đến 23/10, tại Nhà thi đấu thể dục thể thao Phú Thọ (quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh) sẽ diễn ra Triển lãm Vietbuild lần thứ tư với chủ đề Nhà ở - Kiến trúc và Trang trí nội ngoại thất.
Xem thêm