Luật Xây dựng 2014 đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực xây dựng.
14 hanh vi bi nghiem cam trong linh vuc xay dung
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet).
Nhằm bảo đảm hoạt động xây dựng diễn ra theo đúng quy định, Điều 12 Luật Xây dựng 2014 đã quy định chi tiết 14 nhóm hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực xây dựng, bao gồm:1. Quyết định đầu tư xây dựng không đúng với quy định, như quyết định đầu tư xây dựng được ban hành trái, không đúng với thẩm quyền.2. Khởi công xây dựng công trình khi chưa đủ điều kiện khởi công.3. Xây dựng công trình trong khu vực cấm xây dựng; xây dựng công trình lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, đê điều, năng lượng, khu di tích lịch sử - văn hóa và khu vực bảo vệ công trình khác theo quy định của pháp luật; xây dựng công trình ở khu vực đã được cảnh báo về nguy cơ lở đất, lũ quét, lũ ống, trừ công trình xây dựng để khắc phục những hiện tượng này.4. Xây dựng công trình không đúng quy hoạch xây dựng, trừ trường hợp có giấy phép xây dựng có thời hạn; vi phạm chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng; xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng được cấp.5. Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán của công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước trái với quy định.6. Nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng khi không đủ điều kiện năng lực để thực hiện hoạt động xây dựng.7. Chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu không đủ điều kiện năng lực để thực hiện hoạt động xây dựng.8. Xây dựng công trình không tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được lựa chọn áp dụng cho công trình.9. Sản xuất, sử dụng vật liệu xây dựng gây nguy hại cho sức khỏe cộng đồng, môi trường.10. Vi phạm quy định về an toàn lao động, tài sản, phòng, chống cháy, nổ, an ninh, trật tự và bảo vệ môi trường trong xây dựng.11. Sử dụng công trình không đúng với mục đích, công năng sử dụng; xây dựng cơi nới, lấn chiếm diện tích, lấn chiếm không gian đang được quản lý, sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và của khu vực công cộng, khu vực sử dụng chung.12. Đưa, nhận hối lộ trong hoạt động đầu tư xây dựng; lợi dụng pháp nhân khác để tham gia hoạt động xây dựng; dàn xếp, thông đồng làm sai lệch kết quả lập dự án, khảo sát, thiết kế, giám sát thi công xây dựng công trình.13. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật về xây dựng; bao che, chậm xử lý hành vi vi phạm pháp luật về xây dựng.14. Cản trở hoạt động đầu tư xây dựng đúng pháp luật.

Theo baoxaydung.com.vn

Thời gian qua, việc triển khai cấp chứng chỉ năng lực, chứng chỉ hành nghề xây dựng theo Luật Xây dựng năm 2014 số 50/2014/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đã giúp các tổ chức, cá nhân hoạt động trên lĩnh vực xây dựng hành nghề được thuận lợi hơn.
tac dong cua cac quy dinh cap chung chi hanh nghe trong hoat dong xay dung
Chính phủ ban hành Nghị định 100/2018/NĐ-CP đã sớm nhận được sự ủng hộ cao của các doanh nghiệp (Ảnh: TL).
Khi tham gia vào các hoạt động xây dựng, các đơn vị tổ chức luôn cần phải công khai năng lực tham gia xây dựng. Cơ sở để đánh giá năng lực hoạt động xây dựng của một đơn vị, tổ chức có thể dựa vào chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng.Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng là bản đánh giá năng lực thu gọn của Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng đối với các đơn vị, tổ chức tham gia hoạt động xây dựng. Đồng thời, chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng là điều kiện, quyền hạn, năng lực của tổ chức tham gia hoạt động xây dựng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.Chứng chỉ hành nghề xây dựng và cơ sở pháp lý chứng chỉ hành nghề xây dựng là một văn bản do Bộ Xây dựng hoặc Sở xây dựng cấp phép cho các tổ chức, cá nhân. Những cá nhân sở hữu chứng chỉ này mới có quyền được tham gia vào các hoạt động xây dựng một cách độc lập với vai trò là giám sát trưởng, chỉ huy trưởng hay chủ nhiệm... Việc yêu cầu có chứng chỉ hành nghề với các cá nhân trở thành điều kiện bắt buộc đã được quy định ở Điều 148 của Luật Xây dựng.Ngoài ra, việc Chính phủ ban hành Nghị định 100/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng, trong đó, sửa đổi, bổ sung quy định điều kiện chung để được cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đã được quy định tại Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng đã sớm nhận được sự ủng hộ cao của các doanh nghiệp.Theo quy định tại Khoản 2, Điều 1, Nghị định 100/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng thì: "Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng được cấp cho cá nhân là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài hoạt động xây dựng hợp pháp tại Việt Nam để đảm nhận các chức danh hoặc hành nghề độc lập quy định tại khoản 3, Điều 148, Luật Xây dựng 2014”. Do đó, các cá nhân được giao lập hồ sơ thiết kế công trình xây dựng, lập dự toán xây dựng công trình nếu không đảm nhận chức danh chủ nhiệm, chủ trì thì không bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định tại khoản 3, Điều 44, Nghị định 59/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2, Điều 1, Nghị định 100/2018/NĐ-CP.Thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng được quy định tại Khoản 4, Điều 1, Nghị định 100/2018/NĐ-CP.Luật Xây dựng 2014 không quy định cá nhân làm công tác thẩm định tại cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng. Do đó, tùy theo yêu cầu vị trí việc làm và quy chế làm việc của cơ quan, tổ chức có thể yêu cầu về tuyển dụng lao động theo từng vị trí phù hợp với nhu cầu của mình.Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 85, Luật Xây dựng 2014 thì chủ đầu tư có quyền tự thực hiện thiết kế xây dựng khi có đủ điều kiện năng lực hoạt động, năng lực hành nghề phù hợp với loại, cấp công trình xây dựng.Ông Ôn Mạnh Nghĩa - Giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng và lắp đặt thiết bị Việt Nam (Vinace) cho biết, trước đây khi chưa có Nghị định 100/2018/NĐ-CP, để tham gia được các công trình tương đối lớn thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải hợp tác với Công ty lớn hơn để có đủ điều kiện pháp nhân. Điều này làm doanh nghiệp phát sinh thêm chi phí. Nay theo Nghị định 100/2018/NĐ-CP, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ chủ động tự hạch toán kinh doanh, vừa nâng cao năng lực, vừa giảm những chi phí không cần thiết do phải đi nhờ pháp nhân như trước.Nếu trước đây, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa đủ tư cách pháp nhân theo quy định chỉ tiếp cận được các công trình quy mô cấp 3, giá trị từ 15 tỷ trở xuống. Nay theo Nghị định 100/2018/NĐ-CP, với công trình cấp 1, doanh nghiệp như Vinace có thể tham gia đấu thầu trực tiếp cạnh tranh với doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Điều này sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau.Đối với cá nhân, theo ông Nghĩa, Nghị định 100/2018/NĐ-CP tạo thuận lợi hơn cho việc được cấp chứng chỉ hành nghề. Hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề cũng đơn giản hơn rất nhiều.Còn theo bà Trần Thị Hương - Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng hạ tầng và giao thông (INTRACOM), Nghị định 100/2018/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng theo hướng thông thoáng, đơn giản hóa nhưng chi tiết và thực tế hơn.Cụ thể, Nghị định 100/2018/NĐ-CP không quy định cứng về số lượng tối thiểu những người trong tổ chức phải đáp ứng trong từng hạng mục để được cấp chứng chỉ năng lực mà chỉ yêu cầu cá nhân chủ chốt có chứng chỉ hành nghề phù hợp.Quy định này đã tạo được tính chủ động về quy mô hoạt động của tổ chức, loại bỏ sự độc quyền của một số tổ chức lớn, tạo sự linh hoạt trong việc sử dụng lao động tại các tổ chức tham gia hoạt động xây dựng, phù hợp với yêu cầu công việc và quy luật thị trường lao động.Việc bổ sung quy định về cấp chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ năng lực trực tuyến sẽ giảm thời gian và chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Nghị định 100/2018/NĐ-CP tăng thời hạn có hiệu lực của chứng chỉ năng lực từ 5 năm lên 10 năm cũng sẽ giảm được tần suất thủ tục hành chính.“Chúng tôi tin rằng không chỉ doanh nghiệp trong ngành Xây dựng sẽ được thuận lợi hơn trong hoạt động tham gia thị trường xây dựng, nâng cao năng lực thực chất. Và trên hết, doanh nghiệp kỳ vọng có một môi trường hoạt động xây dựng lành mạnh” - bà Trần Thị Hương nhận định.

Theo baoxaydung.com.vn

 Cho dù đến ngày 01/01/2021 mới có hiệu lực thi hành nhưng có ý kiến cho rằng, Luật Xây dựng 2020 vẫn còn một số điểm chồng chéo, chưa đồng bộ so với một số Luật khác. Tuy nhiên, Bộ Xây dựng khẳng định không có việc này.
luat xay dung 2020 co va voi cac luat khac
Luật Xây dựng 2020 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020 (Ảnh: TL).
Xóa bỏ sự chồng chéo giữa Luật Xây dựng và một số Luật khácLuật Xây dựng số 62/2020/QH14 được Quốc hội khóa XIV thông qua vào ngày 17/6/2020 với nhiều đổi mới mang tính chiến lược. Đặc biệt, các nội dung mâu thuẫn, chưa đồng bộ giữa Luật Xây dựng với 17 Luật khác cũng đã được tiếp thu, sửa đổi.Một số nội dung quan trọng như, không thống nhất về khái niệm nhà ở riêng lẻ trong Luật Xây dựng và Luật Nhà ở, không thống nhất về quyền của người sử dụng đất trong việc xây dựng mới nhà ở trong Luật Xây dựng và Luật Đất đai cũng đã được khắc phục.Cụ thể trước đó, Luật Đất đai yêu cầu người sử dụng đất có nghĩa vụ “sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Quy định này là gây khó cho người dân, vì khi được cấp phép xây dựng là đã bảo đảm đúng quy hoạch, trong khi tính chất của giấy phép xây dựng có thời hạn, như vậy không bảo đảm quyền lợi cho người dân, nhất là ở những khu vực đã có quy hoạch sử dụng đất nhưng địa phương chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm.Trong thực tiễn có quy hoạch đã được phê duyệt, nhưng chưa được thực hiện. Luật Xây dựng quy định việc cấp giấy phép xây dựng có thời hạn đối với khu vực có quy hoạch phân khu xây dựng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, công bố nhưng chưa thực hiện và chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, cũng theo quy định của Luật Xây dựng những công trình này phải đáp ứng điều kiện phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt. Các địa phương cho rằng, quy định này của Luật Xây dựng là không khả thi, vì về bản chất những công trình này không phù hợp với quy hoạch xây dựng nên không thể phù hợp với mục đích sử dụng đất.Một số quy định gây bất cập trong Luật Xây dựng năm 2014 như chưa quy định đảm bảo thực hiện đồng thời song song các thủ tục như: Thẩm định dự án, thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định thiết kế bản vẽ thi công với cấp giấy phép xây dựng, đánh giá tác động môi trường, thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy chữa cháy, thẩm định về công nghệ dẫn đến thời gian chuẩn bị dự án, cấp giấy phép xây dựng còn kéo dài.Về việc quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn Nhà nước, Luật Xây dựng năm 2014 chưa phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm thẩm định giữa người quyết định đầu tư, cơ quan chuyên môn về xây dựng và chủ đầu tư dự án, thực tế chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế thường có tư tưởng ý lại, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm soát chất lượng hồ sơ dự án, hồ sơ thiết kế trước khi trình thẩm định dẫn đến hồ sơ chất lượng thấp, thời gian thẩm định kéo dài.Đặc biệt là sự thiếu đồng bộ, nhất quán giữa Luật Xây dựng năm 2014 và Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công về nguồn vốn đầu tư, như: Luật Xây dựng năm 2014 quy định vốn Nhà nước gồm vốn ngân sách Nhà nước và vốn Nhà nước ngoài ngân sách không thống nhất về phạm vi điều chỉnh với vốn đầu tư công.Tuy nhiên, qua quá trình sửa đổi, bổ sung, Luật Xây dựng năm 2020 đã khắc phục được hầu hết những bất cập này.Vừa qua, UBND tỉnh Đồng Nai có kiến nghị Thủ tướng một số nội dung liên quan đến sự chồng chéo giữa Luật Xây dựng với các Luật khác như Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Nhà ở. Cụ thể là chưa có sự thống nhất về khái niệm “nhà đầu tư”, “chủ đầu tư”.Trả lời việc này, Bộ Xây dựng cho rằng, pháp luật về xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản hiện hành không có quy định về khái niệm “nhà đầu tư” mà chỉ có khái niệm “chủ đầu tư”; pháp luật về đầu tư lại chỉ có khái niệm “nhà đầu tư” dẫn đến sự không thống nhất, gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật. Do vậy, khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng năm 2020 đã sửa đổi, bổ sung Điều 7 Luật Xây dựng năm 2014, làm rõ mối quan hệ giữa “nhà đầu tư” và “chủ đầu tư”, trường hợp nào “nhà đầu tư” trở thành “chủ đầu tư” bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Như vậy là không có sự chồng chéo giữa các Luật.Cần sớm ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫnThực tế hiện nay có việc Luật ra rồi nhưng các Nghị định, Thông tư hướng dẫn còn chậm ban hành dẫn đến những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai Luật.Chia sẻ về những vướng mắc này, ông Nguyễn Văn Nghĩa - Phó Giám đốc Sở Xây dựng Bắc Giang cho biết: Các quy định của pháp luật về quản lý xây dựng cơ bản của nước ta hiện nay còn phức tạp, quy định chồng chéo, khó triển khai thực hiện và còn nhiều điểm nghẽn. Công tác quản lý chi phí đối với dự án sử dụng vốn Nhà nước tuy chặt chẽ nhưng phức tạp như hệ thống chính sách, định mức, đơn giá xây dựng dẫn đến việc lập và quản lý dự toán công trình mất nhiều thời gian, công sức làm chậm thời gian triển khai thực hiện dự án đầu tư công.Ông Nghĩa cũng cho rằng, đối với công tác quản lý chi phí cần nghiên cứu theo hướng đơn giản hóa các quy định về lập dự toán công trình ví dụ như xác định dự toán theo suất vốn đầu tư, đơn giá xây dựng tổng hợp được cơ quan có thẩm quyền công bố hàng tháng phù hợp với giá thị trường; đồng thời quản lý chặt chẽ công tác đấu thầu đảm bảo công khai, minh bạch; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm nếu có sai phạm là giải pháp đẩy nhanh thời gian chuẩn bị dự án và giải ngân vốn đầu tư công hiện nay.“Hiện nay, Luật Xây dựng đã được sửa đổi ban hành. Tuy nhiên, cho đến nay các Nghị định, Thông tư hướng dẫn chậm được ban hành là khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước trong thời gian tới. Để quá trình triển khai, thực hiện luật có hiệu quả, Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định, Bộ Xây dựng cần sớm ban hành các Thông tư hướng dẫn”.Theo Luật Xây dựng số 62/2020/QH14 đã được Quốc hội thông qua, Luật sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021. Tuy nhiên, để sớm tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực đầu tư xây dựng triển khai các dự án, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội sau đại dịch Covid-19, một số nội dung sẽ có hiệu lực kể từ ngày 15/8/2020.Cụ thể, khoản 2, Điều 3, Luật Xây dựng số 62 nêu rõ: Các quy định của Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2020: “a) Quy định tại khoản 13, Điều 1 về thẩm quyền thẩm định Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng của người quyết định đầu tư; b) Quy định tại khoản 30, Điều 1 về miễn giấy phép xây dựng đối với công trình xây dựng đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thông báo kết quả thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở đủ điều kiện phê duyệt thiết kế xây dựng; c) Quy định tại khoản 37, Điều 1 về bãi bỏ thẩm quyền của Bộ Xây dựng và giao UBND cấp tỉnh cấp giấy phép xây dựng đối với công trình xây dựng cấp đặc biệt; d) Quy định tại điểm d và điểm đ, khoản 3, Điều này”.

Theo baoxaydung.com.vn